1. Từ một di huấn còn nguyên tính thời sự
Ngày 3/2/1969, nhân kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng, Báo Nhân Dân số 5409 đăng trên trang nhất bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh T.L. Bài báo chỉ 686 chữ, nhưng là tác phẩm cuối cùng Người viết về chủ đề đạo đức cách mạng, và cho đến nay vẫn được coi là một lời cảnh tỉnh sâu sắc đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Trước đó hơn hai mươi năm, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (1947), Người đã dùng một hình ảnh rất mạnh để nói về chủ nghĩa cá nhân: “một thứ vi trùng rất độc”, từ đó sinh ra hàng loạt căn bệnh - tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ. Cách đặt vấn đề ấy cho thấy chủ nghĩa cá nhân không phải là một khuyết điểm nhất thời, mà là một thứ mầm bệnh có khả năng lây lan, biến đổi và ẩn mình theo từng hoàn cảnh.
Hoàn cảnh hôm nay đã khác. Chủ nghĩa cá nhân không còn chỉ biểu hiện trong sinh hoạt chính trị, mà đã len vào đời sống kinh tế - nơi có dòng tiền, có tài sản, có quyền phân phối lợi ích. Doanh nghiệp và hợp tác xã, hai thiết chế kinh tế gắn trực tiếp với lợi ích vật chất của hàng vạn con người, chính là môi trường mà chủ nghĩa cá nhân dễ nảy sinh nhất và cũng khó nhận diện nhất, bởi nó thường được che đậy bằng ngôn ngữ của hiệu quả, của quyết đoán, của “vì công việc chung”.
2. Khung nhận diện
Đảng ta đã có hệ thống văn bản đủ chi tiết để soi chiếu vấn đề này:
- Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ — chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái, chia thành ba nhóm, mỗi nhóm 9 biểu hiện.
- Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.
- Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về những điều đảng viên không được làm (19 điều).
- Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới, gồm 5 điều với 19 tiêu chí.
Điểm chung của các văn bản trên là đặt ra một phép thử đơn giản mà nghiêm khắc: khi lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể xung đột, người cán bộ chọn bên nào? Chủ nghĩa cá nhân bắt đầu chính xác từ chỗ câu trả lời nghiêng về phía cái tôi — dù được biện minh khéo léo đến đâu.

3. Biểu hiện trong doanh nghiệp
Trong môi trường doanh nghiệp, chủ nghĩa cá nhân hiếm khi lộ diện thô thiển. Nó thường xuất hiện dưới những dạng sau:
Một là, lợi ích nhóm và quan hệ “sân sau”. Người có quyền quyết định hướng đơn hàng, hợp đồng mua sắm, thầu phụ về những đầu mối có quan hệ thân hữu; giá cả và chất lượng trở thành thứ yếu so với việc “ai được hưởng”.
Hai là, độc đoán, gia trưởng trong điều hành. Người đứng đầu coi doanh nghiệp như tài sản riêng, quyết định không qua bàn bạc, không chấp nhận phản biện, xem ý kiến khác là chống đối. Bộ máy dần chỉ còn những người biết vâng lời.
Ba là, tranh công — đổ lỗi. Thành tích tập thể được quy về cá nhân người lãnh đạo; thất bại thì tìm người chịu trách nhiệm ở cấp dưới. Đây là biểu hiện phá hoại động lực nội bộ nhanh nhất.
Bốn là, giữ thông tin làm quyền lực riêng. Không chia sẻ dữ liệu khách hàng, quy trình, quan hệ đối tác, để bản thân trở thành mắt xích không thể thay thế. Doanh nghiệp vì thế luôn ở thế rủi ro.
Năm là, chạy theo lợi ích ngắn hạn. Cắt xén chi phí an toàn lao động, môi trường, bảo hiểm cho người lao động; báo cáo tô hồng để giữ vị trí và thưởng, đẩy hệ lụy cho nhiệm kỳ sau.
Sáu là, cục bộ, bè phái. Hình thành các nhóm theo quan hệ vùng miền, thân quen, lôi kéo nhau trong đề bạt và phân bổ nguồn lực, làm rạn nứt khối đoàn kết.
Bảy là, né tránh, sợ trách nhiệm. Chọn phương án an toàn cho cá nhân thay vì phương án tốt nhất cho tổ chức; đùn đẩy hồ sơ, kéo dài thời gian xử lý, “giữ mình” hơn là “làm việc”.
4. Biểu hiện trong hợp tác xã - nguy hiểm hơn vì đi ngược bản chất
Hợp tác xã có đặc thù mà doanh nghiệp không có: đây là tổ chức đồng sở hữu. Khoản 7 Điều 4 Luật Hợp tác xã năm 2023 (Luật số 17/2023/QH15, có hiệu lực từ 01/7/2024) xác định hợp tác xã do ít nhất 05 thành viên chính thức tự nguyện thành lập, thực hiện quản trị tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ. Điều 8 của Luật nêu nguyên tắc tự nguyện tham gia và mở rộng kết nạp thành viên; dân chủ, bình đẳng trong tổ chức, quản lý, trong đó thành viên chính thức tham gia quản lý một cách dân chủ, bình đẳng, “không phụ thuộc vào phần vốn góp”.
Chính vì vậy, khi chủ nghĩa cá nhân xâm nhập hợp tác xã, nó không chỉ làm giảm hiệu quả — nó phá vỡ chính lý do tồn tại của tổ chức. Những biểu hiện thường gặp:
Một là, “hợp tác xã của một người”. Hội đồng quản trị, giám đốc, kế toán, kiểm soát đều là người trong một gia đình hoặc một nhóm thân cận. Thành viên còn lại chỉ có tên trong danh sách. Hợp tác xã mang hình thức tập thể nhưng vận hành như hộ kinh doanh mở rộng.
Hai là, đại hội thành viên hình thức. Tài liệu phát ngay tại chỗ, báo cáo đọc lướt, biểu quyết cho đủ thủ tục. Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên tồn tại trên giấy, không có báo cáo giám sát độc lập.
Ba là, thiếu minh bạch tài chính. Lẫn lộn tài sản, dòng tiền của hợp tác xã với tài sản cá nhân người quản lý; chi tiêu không quy chế; công nợ không đối chiếu; thành viên không biết hợp tác xã lãi lỗ ra sao.
Bốn là, phân phối lợi ích lệch chuẩn. Thu nhập, vật tư, dịch vụ đầu vào, cơ hội tiêu thụ được ưu tiên cho nhóm thân cận thay vì phân phối theo mức độ sử dụng dịch vụ và đóng góp thực tế của thành viên.
Năm là, ngại kết nạp thành viên mới vì sợ chia sẻ quyền lực. Đây là biểu hiện đi ngược trực tiếp nguyên tắc mở rộng kết nạp thành viên của Luật, và là nguyên nhân khiến nhiều hợp tác xã mãi không lớn được về quy mô.
Sáu là, thành lập hợp tác xã để đón chính sách. Lập ra không xuất phát từ nhu cầu hợp tác thật, mà để tiếp cận đất đai, vốn vay, chương trình hỗ trợ; khi chính sách kết thúc thì tổ chức ngừng hoạt động.
Bảy là, ngại liên kết, ngại vào chuỗi. Sợ khi tham gia liên hiệp hợp tác xã, chuỗi giá trị hay tổ chức đại diện thì vị thế cá nhân bị thu hẹp, quyền quyết định bị san sẻ.
Tám là, không chuẩn bị đội ngũ kế cận. Không đào tạo, không phân quyền, không chuyển giao, khiến hợp tác xã phụ thuộc hoàn toàn vào một người và đứng trước rủi ro tan rã khi người đó nghỉ.
5. Nhìn từ thực tiễn kinh tế tập thể thành phố Đồng Nai
Số liệu của Liên minh Hợp tác xã thành phố Đồng Nai đến ngày 30/6/2026 cho thấy toàn thành phố có 922 hợp tác xã, trong đó 677 đang hoạt động và 245 ngưng hoạt động chờ giải thể; 1.089 tổ hợp tác; 56.700 thành viên và 16.433 lao động.
Về đội ngũ, theo số liệu đến 30/4/2026, trong 2.815 cán bộ quản lý hợp tác xã có 860 người (30,6%) trình độ cao đẳng, đại học trở lên; 1.689 người (60%) trình độ sơ cấp, trung cấp; số còn lại chưa qua đào tạo.
Về phát triển thành viên, nhiệm kỳ 2020-2025 đạt 10/11 chỉ tiêu; chỉ tiêu chưa đạt chính là phát triển thành viên: mục tiêu 80% hợp tác xã (khoảng 520 đơn vị) tham gia Liên minh, kết quả đạt 332 hợp tác xã, tương đương 63,8%.
Những con số trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan tạo thành - thị trường, vốn, đất đai, năng lực quản trị, cơ chế chính sách - không thể quy toàn bộ cho chủ nghĩa cá nhân. Nhưng cũng không nên bỏ qua một thực tế: một tổ chức đồng sở hữu mà thành viên không thấy mình có tiếng nói, không thấy lợi ích được phân chia minh bạch, thì tất yếu sẽ giảm gắn bó. Tỷ lệ hợp tác xã ngừng hoạt động và tỷ lệ tham gia tổ chức đại diện chưa đạt mục tiêu là những chỉ báo đáng để soi lại từ góc độ quản trị nội bộ và đạo đức người đứng đầu.
6. Hệ lụy
Chủ nghĩa cá nhân trong doanh nghiệp, hợp tác xã để lại bốn hậu quả lớn:
- Mất niềm tin - thứ vốn khó tích lũy nhất và mất nhanh nhất. Thành viên rút vốn, người lao động nghỉ việc, đối tác dè dặt.
- Mất động lực hợp tác - bản chất của kinh tế tập thể là cùng làm để cùng mạnh; khi lợi ích bị thao túng, người ta quay về làm ăn riêng lẻ.
- Rủi ro pháp lý và tài chính - thiếu minh bạch sớm muộn dẫn tới sai phạm về thuế, kế toán, hợp đồng, thậm chí hình sự.
- Thui chột năng lực tổ chức - không có đội ngũ kế cận, không tích lũy tri thức quản trị, tổ chức không thể chuyển đổi số, không thể vào chuỗi giá trị.
7. Nhóm giải pháp ứng phó
7.1. Giải pháp về nhận thức và giáo dục
Đưa nội dung phòng, chống chủ nghĩa cá nhân thành chuyên đề sinh hoạt định kỳ tại chi bộ, hội nghị người lao động và đại hội thành viên, gắn với Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW và Quy định số 144-QĐ/TW.
Điểm mấu chốt là phải chuyển từ tuyên truyền chung sang tình huống cụ thể: chỉ ra ranh giới giữa quyết đoán và độc đoán, giữa bảo vệ bí mật kinh doanh và giữ thông tin làm quyền lực riêng, giữa thưởng theo đóng góp và ưu ái thân hữu. Đề án tuyên truyền nâng cao nhận thức về kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030 do Liên minh Hợp tác xã thành phố chủ trì theo Chương trình số 04/CTr-UBND ngày 20/8/2026 của UBND thành phố Đồng Nai là kênh phù hợp để triển khai nội dung này.
7.2. Thể chế hóa bằng quy chế nội bộ
Đạo đức cần được đỡ bằng quy tắc. Mỗi doanh nghiệp, hợp tác xã cần rà soát và ban hành đủ: điều lệ phù hợp Luật Hợp tác xã năm 2023, quy chế tài chính, quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế phân phối thu nhập, quy chế mua sắm, quy chế tuyển dụng và bổ nhiệm.
Đặc biệt nên bổ sung quy định về xung đột lợi ích: người quản lý phải kê khai quan hệ nhân thân với đối tác trong các giao dịch của đơn vị và không tham gia biểu quyết đối với giao dịch mà mình có lợi ích liên quan. Đây là công cụ đơn giản nhưng chặn được phần lớn hành vi “sân sau”.
7.3. Minh bạch hóa và số hóa quản trị
Số liệu không nể ai. Công khai định kỳ báo cáo tài chính đến thành viên; đối chiếu công nợ; sử dụng phần mềm kế toán, quản lý thành viên, nhật ký sản xuất và truy xuất nguồn gốc. Khi mọi giao dịch để lại dấu vết và mọi thành viên đọc được cùng một bộ số liệu, dư địa cho chủ nghĩa cá nhân thu hẹp lại đáng kể.
Đây cũng là hướng phù hợp với phương châm mà Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 01/5/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Đồng Nai (khóa I) đã xác định: thực chất — đo đếm được — kiểm soát được — đánh giá được.
7.4. Phát huy dân chủ thực chất và cơ chế giám sát
Trả lại thực quyền cho đại hội thành viên: gửi tài liệu trước, dành thời gian thảo luận, biểu quyết từng nội dung, ghi nhận đầy đủ ý kiến khác biệt vào biên bản.
Củng cố ban kiểm soát/kiểm soát viên với ba điều kiện tối thiểu: độc lập về nhân thân với ban giám đốc, được tiếp cận đầy đủ chứng từ, và có báo cáo riêng trước đại hội. Song song, thiết lập kênh tiếp nhận phản ánh của thành viên và người lao động, có cơ chế bảo vệ người phản ánh trung thực.
7.5. Công tác cán bộ và trách nhiệm nêu gương
Chủ nghĩa cá nhân bắt đầu từ người đứng đầu và cũng được chặn lại từ người đứng đầu. Cần gắn tiêu chí đánh giá cán bộ quản lý với hiệu quả tập thể — mức tăng thu nhập của thành viên, tỷ lệ thành viên gắn bó, số thành viên mới kết nạp — chứ không chỉ doanh thu.
Về đào tạo, Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 phê duyệt Chương trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu ít nhất 80% giám đốc hợp tác xã được đào tạo sơ cấp nghề giám đốc và ít nhất 30% giám đốc là nữ. Chương trình hành động số 02/CTr-BCH ngày 10/7/2026 của Ban Chấp hành Liên minh Hợp tác xã thành phố khóa I xác định phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ đột phá thứ nhất, với mô hình “Mentor - Mentee”, nền tảng học tập số và đội ngũ tư vấn viên theo lĩnh vực. Đây chính là công cụ để phá thế “một người biết việc” trong nhiều hợp tác xã hiện nay.
7.6. Xây dựng văn hóa kinh doanh và động lực tích cực
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân xác định rõ định hướng lấy đạo đức, văn hóa kinh doanh làm cốt lõi, đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật; đồng thời chú trọng tôn vinh, biểu dương doanh nhân, doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, bền vững và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội.
Ở cấp thành phố, Bộ tiêu chuẩn “Niềm tin” được nêu trong Chương trình hành động số 02/CTr-BCH có thể trở thành thước đo mềm cho quản trị minh bạch của hợp tác xã: một hợp tác xã đạt chuẩn không chỉ ở doanh thu, mà ở mức độ công khai tài chính, chất lượng đại hội thành viên và sự hài lòng của thành viên.
8. Kết luận
Chống chủ nghĩa cá nhân trong doanh nghiệp và hợp tác xã không phải là câu chuyện đạo đức thuần túy. Đó là điều kiện kỹ thuật để tổ chức tồn tại. Một doanh nghiệp bị chi phối bởi cái tôi của người đứng đầu sẽ không giữ được người tài. Một hợp tác xã bị biến thành sở hữu riêng của một nhóm sẽ không còn là hợp tác xã, dù giấy chứng nhận đăng ký vẫn còn hiệu lực.
Hơn nửa thế kỷ trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Trong khu vực kinh tế tập thể hôm nay, câu ấy có thể diễn đạt lại rất giản dị: người quản lý minh bạch trước, thành viên sẽ tin và gắn bó theo sau. Xây dựng được niềm tin ấy chính là cách phòng, chống chủ nghĩa cá nhân bền vững nhất — và cũng là nền móng để kinh tế tập thể thành phố Đồng Nai đạt được các mục tiêu đã đề ra cho giai đoạn 2026-2030.
Nguồn: Vy Vũ Hồng Thảo - Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã thành phố