Những năm gần đây, thị trường nông sản đang thay đổi rất nhanh. Nếu như trước đây, nông dân và hợp tác xã chỉ cần sản xuất được sản phẩm ngon, năng suất cao là có thể bán được hàng thì nay yêu cầu của thị trường đã khác rất nhiều. Người tiêu dùng và các thị trường xuất khẩu không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn quan tâm đến quy trình sản xuất, nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn an toàn, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, phát thải thấp và tính minh bạch trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Điều này đồng nghĩa với việc, nếu hợp tác xã vẫn sản xuất theo tư duy cũ, thiếu tiêu chuẩn, thiếu dữ liệu và thiếu liên kết thị trường thì rất dễ bị bỏ lại phía sau ngay trên chính thị trường nội địa.
Khi thị trường không còn “dễ tính”
Hiện nay, nhiều thị trường xuất khẩu lớn như Trung Quốc, châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản… đều siết chặt các quy định về chất lượng nông sản. Không chỉ xuất khẩu, ngay cả hệ thống siêu thị, sàn thương mại điện tử hay chuỗi cửa hàng trong nước cũng yêu cầu sản phẩm phải có truy xuất nguồn gốc, mã QR, vùng nguyên liệu ổn định và tiêu chuẩn sản xuất rõ ràng.
Thực tế cho thấy, nhiều hợp tác xã vẫn còn tâm lý sản xuất theo kinh nghiệm, mạnh ai nấy làm, chưa quan tâm nhiều đến hồ sơ sản xuất, nhật ký điện tử, tiêu chuẩn kỹ thuật hay quy trình kiểm soát chất lượng. Đây chính là điểm yếu lớn khiến nhiều sản phẩm khó đi xa dù chất lượng không hề thua kém.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, tính đến tháng 5/2025, Đồng Nai có 203 mã số vùng trồng xuất khẩu với quy mô gần 29 nghìn hécta. Trong khi đó, nhu cầu mở rộng vùng nguyên liệu đạt chuẩn để phục vụ xuất khẩu ngày càng lớn. Điều đó cho thấy, việc đáp ứng tiêu chuẩn thị trường hiện nay vẫn là bài toán không dễ đối với nhiều hợp tác xã.
Từ “sản xuất nông sản” sang “sản xuất theo đơn hàng thị trường”
Một trong những thay đổi lớn hiện nay là thị trường không còn mua những gì người dân có, mà sẽ ưu tiên những sản phẩm đáp ứng đúng tiêu chuẩn họ cần. Do đó, hợp tác xã muốn tồn tại bền vững thì phải chuyển từ tư duy “sản xuất rồi tìm nơi bán” sang “thị trường cần gì thì tổ chức sản xuất cái đó”. Đây cũng chính là lý do nhiều hợp tác xã bắt đầu thay đổi phương thức hoạt động theo hướng chuyên nghiệp hơn, chú trọng tiêu chuẩn, mã số vùng trồng, số hóa quy trình sản xuất và liên kết tiêu thụ.
Tại Đồng Nai, Hợp tác xã cây ăn trái Nông Thành Phát là một ví dụ điển hình. Sau nhiều năm kiên trì xây dựng vùng trồng đạt chuẩn, hợp tác xã đã được cấp mã số vùng trồng sầu riêng xuất khẩu chính ngạch sang thị trường Trung Quốc. Việc được cấp mã số vùng trồng không chỉ giúp sản phẩm có “tấm vé thông hành” ra thị trường quốc tế mà còn giúp nâng giá trị trái sầu riêng, tạo đầu ra ổn định cho thành viên. Để đạt được kết quả đó, hợp tác xã đã phải thay đổi rất nhiều, từ quy trình chăm sóc, sử dụng phân bón, ghi chép nhật ký sản xuất đến quản lý dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và truy xuất nguồn gốc.

Sầu riêng của HTX Nông Thành Phát được doanh nghiệp, thương lái thu mua tận vườn (nguồn ảnh: Từ Báo VN Business)
Tương tự, một số hợp tác xã trồng sầu riêng tại Đồng Nai cũng đã ứng dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, số hóa vườn cây theo tiêu chuẩn VietGAP để nâng cao tính minh bạch cho sản phẩm. Nhờ đó, sản phẩm bán được giá tốt hơn và hạn chế tình trạng bị thương lái ép giá.
Nhiều hợp tác xã vẫn loay hoay trước “rào cản mới”
Bên cạnh những mô hình tích cực, thực tế hiện nay vẫn còn không ít hợp tác xã gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi. Nhiều nơi thiếu cán bộ kỹ thuật, thiếu nhân lực am hiểu thị trường, chưa có khả năng tiếp cận các tiêu chuẩn mới. Một số hợp tác xã còn tâm lý e ngại thay đổi vì cho rằng việc làm hồ sơ, truy xuất nguồn gốc hay sản xuất theo tiêu chuẩn sẽ làm tăng chi phí. Trong khi đó, sản xuất nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ giữa các thành viên cũng khiến việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra, khả năng tiếp cận công nghệ số của nhiều hợp tác xã còn hạn chế. Không ít đơn vị chưa biết cách quảng bá sản phẩm trên môi trường số, chưa tận dụng thương mại điện tử, chưa xây dựng thương hiệu bài bản nên khó cạnh tranh. Nếu không thay đổi kịp thời, nhiều hợp tác xã có nguy cơ mất dần lợi thế ngay trên chính những mặt hàng chủ lực của địa phương.
Không thay đổi sẽ rất khó đi xa
Hiện nay, xu hướng tiêu dùng xanh, sản xuất sạch và minh bạch đang trở thành yêu cầu bắt buộc chứ không còn là lựa chọn. Do đó, hợp tác xã cần xác định rõ việc xây dựng tiêu chuẩn, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng công nghệ không phải để “đối phó” mà là điều kiện để tồn tại lâu dài.
Trong thời gian tới, các ngành chức năng cần tiếp tục hỗ trợ hợp tác xã về tập huấn kỹ thuật, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu, kết nối tiêu thụ và tiếp cận chính sách. Bản thân các hợp tác xã cũng phải chủ động thay đổi tư duy quản trị, tăng cường liên kết với doanh nghiệp, nâng cao vai trò người đứng đầu và xây dựng vùng nguyên liệu ổn định. Khi thị trường đang thay đổi “luật chơi”, chỉ những hợp tác xã đủ năng lực thích ứng, minh bạch và chuyên nghiệp mới có thể đứng vững và phát triển bền vững.
Hồng Quý